THÔNG TIN THỜI TIẾT THÔNG TIN THỜI TIẾT

Thông tin cải cách hành chính Thông tin cải cách hành chính

Phân tích kết quả Chỉ số Cải cách hành chính các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh BRVT năm 2018
Ngày 28 tháng 3 năm 2018, UBND tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu tổ chức hội nghị tổng kết công tác cải cách hành chính (CCHC) năm 2018 trên địa bàn tỉnh. Tại Hội nghị, kết quả chỉ số CCHC các Sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh năm 2018 được công bố. Năm 2018 là năm thứ sáu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thực hiện chấm điểm chỉ số Cải cách hành chính các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.

 

Bộ chỉ số CCHC các Sở, ngành, địa phương năm 2018 được sửa đổi trên cơ sở tiếp thu nội dung Bộ chỉ số CCHC của Bộ Nội vụ và thực tiễn thực hiện CCHC trên địa bàn tỉnh cũng như các ý kiến góp ý của các cơ quan đơn vị, địa phương. Chỉ số CCHC năm 2018 chính thức chia thành 03 nhóm đối tượng (thay vì 04 nhóm như các năm trước) áp dụng cho 03 nhóm cơ quan, đơn vị khác nhau gồm có: Nhóm các Sở, ban, ngành; Nhóm UBND huyện, thị xã, thành phố; Nhóm UBND các xã, phường, thị trấn. Riêng nhóm các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh trong năm 2018 được chuyển sang điều tra khảo sát mức độ hài lòng của người dân, tổ chức.

Điểm số được xác định trên 9 nội dung cơ bản, có sự tách biệt giữa điểm thẩm định và điểm điều tra xã hội học. Thang điểm bộ chỉ số CCHC năm 2018 cân bằng trên thang điểm tối đa100 gồm tối đa 60 điểm thẩm định, 40 điểm điều tra xã hội học và tối đa 5 điểm thưởng, 5 điểm trừ. So với năm 2017, Bộ chỉ số năm 2018 có nhiều điểm mới theo hướng cụ thể hóa những nội dung, phân rõ điểm định lượng của từng tiêu chí, thay đổi cách thức xác định điểm số được tính theo kết quả, tiến độ thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Điểm thẩm định được Tổ đánh giá, chấm điểm gồm đại diện các cơ quan chuyên môn tham mưu, quản lý các lĩnh vực về CCHC như: Sở Nội vụ, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Văn hóa –Thông tin; Thanh tra tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh. Năm 2018 là năm đầu tiên thực hiện xác định điểm số CCHC thông qua Phần mềm chấm điểm chỉ số CCHC do Sở Nội vụ phối hợp Trung tâm công nghệ thông tin và truyền thông, chủ trì vận hành. Tất cả các quy trình, các bước từ việc cơ quan, đơn vị cập nhật tài liệu kiểm chứng, tự chấm điểm đến việc thẩm định chỉ số của Tổ chấm điểm chỉ số CCHC, giải trình tiêu chí, xếp hạng đều thực hiện công khai trên phần mềm xác định chỉ số. Cơ quan, đơn vị nào không cập nhật tài liệu vào phần mềm được xem như không thực hiện nội dung CCHC đó.

1. Kết quả chỉ số CCHC 2018:

Ngày 15/3/2019, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 588/QĐ-UBND về công bố Kết quả chỉ số theo dõi, đánh giá, xếp hạng CCHC năm 2018 ở các cơ quan đơn vị, cụ thể như sau:

+ Nhóm các Sở, ban, ngành: Giá trị trung bình chỉ số CCHC của 21 Sở, ban, ngành đạt được là 72,55%, cao hơn so với giá trị trung bình năm trước 4,19%. Đơn vị thấp nhất đạt 55 điểm, đơn vị cao nhất đạt 82 điểm. Do không có nhiều sự thay đổi về Bộ chỉ số cũng như cơ cấu điểm số, đồng thời nội dung cấu trúc điểm thưởng giữ nguyên so với năm trước, nên hầu hết các Sở, ban, ngành đều tăng điểm, riêng Sở Ngoại vụ giảm điểm. Qua kết quả chỉ số năm 2017 và năm 2018, có 03 đơn vị vẫn giữ nhóm thứ hạng cao là Sở Công thương, Sở Tài chính, Sở Lao động-Thương binh và xã hội. Riêng Ban Dân tộc, Sở Ngoại vụ vẫn trong nhóm thấp nhất. Sở Du lịch trong năm đầu tiên thực hiện xác định chỉ số CCHC cũng nằm trong nhóm giữ hạng thấp. Số điểm chênh lệch giữa đơn vị cao nhất và đơn vị thấp nhất năm 2018 lên đến 27 điểm, cao hơn khá nhiều so với năm 2017 (chênh lệch khoảng 18 điểm). Tổng quan kết quả Chỉ số CCHC cho thấy các Sở, ban, ngành đã tổ chức triển khai thực hiện CCHC theo các nội dung Kế hoạch đề ra. Thực hiện tương đối tốt cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và dịch vụ Bưu chính công ích trong tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ TTHC. Bên cạnh đó kết quả điều tra xã hội học tăng dần đều qua các năm, cho thấy mức độ hài lòng của các tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan nhà nước đã được cải thiện đáng kể.

+ Nhóm UBND các huyện, thị xã, thành phố: Nhìn chung năm 2018, Chỉ số CCHC của nhóm UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng điểm so với năm 2017. Giá trị trung bình chỉ số CCHC của 08 huyện, thị xã, thành phố đạt 72,38%, cao hơn giá trị trung bình kết quả năm 2017 khoảng 2,5%. Đơn vị thấp nhất đạt gần 70 điểm, đơn vị cao nhất đạt trên 75 điểm.  Bên cạnh đó điểm điều tra khảo sát xã hội học của các huyện, thị xã, thành phố năm 2018 tăng so với năm 2017, điều này cho thấy sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan nhà nước đã được nâng lên. Đơn vị tăng điểm nhiều nhất là UBND huyện Côn Đảo, tăng điểm ít nhất là UBND huyện Long Điền. Về thứ hạng ít có sự thay đổi, năm 2018 có 2 đơn vị giảm hạng, 4 đơn vị giữ hạng và 2 đơn vị tăng hạng. Kết quả Chỉ số CCHC cho thấy các địa phương đã quan tâm khi tổ chức triển khai thực hiện CCHC như UBND huyện Châu Đức triển khai đồng bộ dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 ở một số TTHC cho toàn bộ cấp xã trực thuộc cũng như thí điểm trang bị máy scan tại một số xã trên địa bàn để hỗ trợ người dân làm thủ tục trực tuyến.

+ Nhóm UBND các xã, phường, thị trấn: năm 2018, kết quả thẩm định điểm số cho thấy có đến 77 đơn vị cấp xã tăng điểm, 04 đơn vị giảm điểm, 01 đơn vị giữ nguyên điểm số cho thấy sự quan tâm trong công tác CCHC tại địa phương đã có sự thay đổi đáng kể. Tăng điểm nhiều nhất là phường Phước Hòa (TX.Phú Mỹ) tăng 11,71 điểm, giảm điểm nhiều nhất là Phường 12 (TP.Vũng Tàu) giảm 3,07 điểm. Đơn vị cao nhất đạt 78 điểm, đơn vị thấp nhất đạt 63,25 điểm, mức chênh lệch giữa đơn vị cao nhất và đơn vị thấp nhất là gần 15 điểm. Khoảng cách giữa đơn vị đứng đầu và đơn vị đứng cuối vẫn còn khá lớn so với năm 2017. Tổng thể giá trị trung bình năm 2018 đạt 72%, cao hơn năm 2017 khoảng 4%. Năm 2018, ghi nhận nhiều đơn vị cấp xã có cách làm hay trong công tác CCHC, đặc biệt hướng tới sự hài lòng của người dân, tổ chức trên địa bàn, điển hình như: kết hợp thư chúc mừng với lịch tiêm chủng chi tiết khi làm thủ tục giấy khai sinh của UBND xã Suối Nghệ huyện Châu Đức, Mô hình Viết giúp của UBND thị trấn Đất Đỏ,…đã mang lại hiệu quả cao qua kiểm tra thực tế.  

(chi tiết xem tại Bảng 3 - kèm theo Quyết định 588/QĐ-UBND)

+ Nhóm các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh: Năm 2018, nhóm cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh không tham gia xác định điểm số CCHC mà chỉ khảo sát sự hài lòng của người dân, tổ chức khi tham gia giải quyết TTHC tại các cơ quan này. Riêng Cục thuế tỉnh và Chi cục thuế các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh triển khai khảo sát mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước riêng theo Kế hoạch số 87/KH-UBND ngày 02/8/2018 của UBND tỉnh (Báo cáo số 427/BC-SNV ngày 20/12/2018 của Sở Nội vụ). 05 cơ quan Trung ương còn lại cùng được tiến hành khảo sát mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước cùng thời điểm khảo sát xã hội học phục vụ xác định Bộ chỉ số CCHC năm 2018.

STT

Tỷ lệ hài lòng trên các lĩnh vực

 

Đơn vị được khảo sát

Bảo hiểm xã hội tỉnh

Công an tỉnh

Cục Hải quan

Cục thuế tỉnh

Kho bạc Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước

1

Tiếp cận dịch vụ

91,33%

93,00%

99,67%

84,6%

85,33%

96%

2

Thủ tục hành chính

88,50%

91,00%

97,25%

82,17%

86,75%

100%

3

Công chức tiếp nhận và trả kết quả

87,00%

87,25%

97,50%

76,6%

81,25%

99%

4

Kết quả cung ứng dịch vụ hành chính công

88,33%

92,00%

100,00%

82,23%

88,33%

97%

5

Tiếp nhận, xử lý các ý kiến góp ý, phản ánh, kiến nghị

86,25%

90,75%

97,50%

77,17%

82,00%

100%

Mức độ hài lòng năm 2018

88,28%

90,80%

98,38%

80,55%

84,73%

98%

(Tổng hợp hài lòng chung CQTW)

 

2. Đánh giá chung: 

Kết quả xác định Chỉ số CCHC năm 2018 phản ánh tương đối khách quan, trung thực kết quả triển khai CCHC thực tế của đơn vị và là nguồn thông tin quan trọng giúp các đơn vị nhận biết được mặt mạnh, mặt yếu của mình trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ CCHC, từ đó có tác động tích cực đến công tác chỉ đạo, điều hành CCHC trong các năm tiếp theo. Kết quả năm 2018 cho thấy, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã quan tâm hơn đến chỉ đạo, điều hành thực hiện công tác CCHC; đội ngũ công chức tham mưu thực hiện công tác CCHC hầu hết là người có năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính; việc giải quyết TTHC cơ bản theo đúng quy trình, hầu hết thực hiện tại bộ phận một cửa, tỷ lệ giải quyết đúng và sớm hạn so với quy định ngày càng cao (cả 3 cấp lên tới 97%). Hầu hết cơ quan, đơn vị có hồ sơ trễ hẹn đã chủ động ban hành văn bản xin lỗi tổ chức và công dân. Triển khai thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh về kỷ luật, kỷ cương hành chính được quán triệt đồng bộ, kịp thời.

Tuy nhiên, vẫn còn một số cơ quan, đơn vị và địa phương chưa quan tâm chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt nên kết quả thực hiện CCHC chưa cao; Việc quán triệt tầm quan trọng của CCHC là hướng đến sự hài lòng của người dân, hướng đến một nền hành chính phục vụ chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó vẫn chưa có những đổi mới trong phương pháp chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ; còn tình trạng cán bộ, công chức vi phạm nội quy, kỷ luật trong thi hành công vụ, dẫn đến ảnh hưởng chỉ số của các cơ quan, đơn vị và chỉ số CCHC của tỉnh. Trang thông tin điện tử của một số đơn vị còn thiếu thông tin, chưa đầy đủ các chuyên mục theo quy định; việc cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 chưa đồng thời, các giải pháp chưa thật sự hiệu quả  để nâng cao chất lượng việc cung ứng dịch vụ công mức độ 3,4; hồ sơ giải quyết còn trễ hạn và một số hồ sơ trễ chưa có văn bản xin lỗi kịp thời... Phần mềm xác định Chỉ số CCHC do năm đầu tiên nghiên cứu, triển khai vận hành nên vẫn còn một số hạn chế nhất định trong quá trình triển khai thực tế trên toàn tỉnh.

Xác định Chỉ số theo dõi, đánh giá, xếp hạng kết quả CCHC được coi là một nhiệm vụ thường xuyên hàng năm của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Để đảm bảo thông tin kịp thời về kết quả Chỉ số theo dõi, đánh giá, xếp hạng kết quả CCHC năm 2018, đồng thời rút kinh nghiệm để triển khai xác định Chỉ số theo dõi, đánh giá, xếp hạng kết quả CCHC năm 2019 và các năm tiếp theo được tốt hơn, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quán triệt đến toàn thể CBCCVC cơ quan, đơn vị, địa phương về những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế trong thực hiện CCHC tại cơ quan, đơn vị mình; Nghiêm túc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông đối với tất cả các TTHC theo Nghị định 61/2018/NĐ-CP; Bồi dưỡng công chức Bộ phận một cửa nắm chắc nghiệp vụ, hướng dẫn chính xác, đầy đủ, đúng trọng tâm khi người dân đến liên hệ giải quyết TTHC; Thực hiện các giải pháp để nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 để tạo điều kiện tốt nhất cho người dân trong giải quyết TTHC; Chủ động hơn nữa trong liên kết, hợp tác các đơn vị dịch vụ bưu chính đồng thời với công tác tuyên truyền, vận động tổ chức, công dân thực hiện tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích.