Thông tin cải cách hành chính Thông tin cải cách hành chính

Tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2013 và một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách hành chính năm 2014 của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, các chương trình kế hoạch của nhà nước về CCHC, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã kịp thời ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo chỉ đạo công tác cải cách hành chính (CCHC) trên địa bàn tỉnh và xác định CCHC là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong công tác chỉ đạo điều hành năm 2013. Công tác CCHC tại các sở, ban, ngành, địa phương trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả.

1. Cải cách thể chế:

- UBND tỉnh ban hành Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2013, trên cơ sở đó UBND tỉnh đã ban hành 04 văn bản QPPL (04 Quyết định). Công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật cũng được quan tâm, qua kiểm tra trong năm 2013 cho thấy hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật do UBND tỉnh ban hành đều đảm bảo về nội dung, thể thức, có tính khả thi cao. Bên cạnh đó qua kiểm tra đối với cấp huyện cũng đã phát hiện và kiến nghị xử lý đối với 74 văn bản QPPL do chưa đúng quy định của Luật ban hành văn bản của HĐND và UBND các cấp, trong đó: 01 văn bản không đúng thẩm quyền ban hành, 01 văn bản chưa tuân thủ trình tự thủ tục ban hành và 72 văn bản sai về thể thức kỹ thuật trình bày.

- Căn cứ các nhiệm vụ về cải cách hành chính và Chỉ thị 07/CT-TTg ngày 22/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành 20 văn bản triển khai thực hiện công tác CCHC trên địa bàn tỉnh. Hàng tháng, UBND tỉnh duy trì việc kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện công tác CCHC của tỉnh trong cuộc họp thường kỳ với lãnh đạo các Sở, ban, ngành, UBND cấp huyện. Chỉ đạo gắn công tác thi đua khen thưởng hàng năm với kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

2. Cải cách thủ tục hành chính:  

- Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã ban hành Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 05/01/2013 phê duyệt kế hoạch hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính năm 2013, nội dung kế hoạch đã giao nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị và thời gian thực hiện. Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 335/QĐ-UBND ngày 01/02/2013 phê duyệt kế hoạch thực hiện rà soát thủ tục hành chính năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trong đó đã giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành rà soát các nhóm thủ tục về đất đai, xây dựng, đăng ký kinh doanh nhằm kịp thời phát hiện, tham mưu, đề xuất UBND tỉnh kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, các quy định hành chính không khả thi.

- Trong năm 2013, Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã ban hành 45 quyết định công bố thủ tục hành chính từ cấp tỉnh đến cấp xã (trong đó: Công bố mới 188 thủ tục, sửa đổi bổ sung 321 thủ tục, 34 thủ tục thay thế cho 48 thủ tục và bãi bỏ 154 thủ tục). Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có 1.569 thủ tục hành chính áp dụng tại 03 cấp chính quyền (trong đó: Cấp tỉnh 1.242 thủ tục, cấp huyện 212 thủ tục và cấp xã 115 thủ tục). Các thủ tục hành chính sau khi công bố được công khai rộng rãi tại trụ sở của các Sở, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã theo mô hình thống nhất, thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp trong tìm hiểu, tra cứu. Ngoài hình thức niêm yết bắt buộc nêu trên, thì việc công khai thủ tục hành chính trên trang Thông tin điện tử Cải cách hành chính của UBND tỉnh và trang thông tin điện tử của các sở, ngành, địa phương luôn được duy trì và cập nhật thường xuyên.

3. Tổ chức bộ máy hành chính:

-  Thực hiện các quy định, hướng dẫn của trung ương về công tác tổ chức bộ máy, trong năm 2013 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã trình Bộ Công an về việc thành lập Sở Phòng cháy, chữa cháy tại tỉnh; thành lập Chi cục Văn thư – lưu trữ tỉnh; kiện toàn tổ chức bộ máy Sở Xây dựng; thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh; kiện toàn một số đơn vị sự nghiệp Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh; Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông – Sở Thông tin và truyền thông quản lý; kiện toàn trung tâm Ứng dụng khoa học công nghệ và Trung tâm tin học và thông tin khoa học trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, chuyển 02 đơn vị này sang cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

- UBND tỉnh đã thực hiện phân cấp thẩm quyền cấp phép xây dựng; cấp phép xây dựng tạm trên địa bàn tỉnh; phân cấp quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm... Qua kiểm tra công tác tổ chức, biên chế của các cơ quan, đơn vị đã kịp thời nắm bắt tình hình tổ chức, biên chế và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, việc thực hiện phân cấp, ủy quyền của đơn vị, phát hiện những khó khăn vướng mắc tại cơ sở, giúp đơn vị khắc phục những hạn chế, thiếu sót.

4. Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Thực hiện các quy định về quản lý cán bộ, công chức, viên chức, UBND tỉnh triển khai kịp thời có chất lượng các văn bản hướng dẫn của Trung ương về thực hiện Luật Cán bộ, công chức. Về cơ bản, các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp dịch vụ công lập thực hiện đúng quy định về sử dụng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và các chế độ chính sách khác đối với cán bộ, công chức, viên chức tại địa phương. UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo và ban hành Kế hoạch đẩy mạnh cải cách công vụ, công chức của tỉnh; triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng đề án xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; lập thủ tục tiếp nhận 20 công chức không qua thi tuyển tại một số cơ quan, đơn vị theo đúng quy định; thực hiện bố trí, tuyển dụng vào công chức, viên chức đối với 06 sinh viên người dân tộc của tỉnh tốt nghiệp đại học hệ cử tuyển theo tinh thần Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án đào tạo 150 tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài giai đoạn 2010-2015.

5. Cải cách tài chính công:

- Việc thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên để bố trí nguồn chi cải cách tiền lương và chính sách an sinh xã hội phần nào làm ảnh hưởng đến mức chi tăng thu nhập của các đơn vị. Mức tăng thu nhập bình quân tháng trong 9 tháng đầu năm 2013 giảm 40% (đối với khối huyện) và giảm 5% (đối với khối tỉnh) so với mức năm 2012

- Duy trì, nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, cụ thể: Đến nay đã có 254/254 cơ quan hành chính thực hiện (đạt tỷ lệ 100%), trong đó, cấp tỉnh có 48 cơ quan, cấp huyện 24 cơ quan, cấp xã có 82/82 cơ quan. 513/514 đơn vị sự nghiệp thực hiện (đạt tỷ lệ 99,8%), trong đó, số đơn vị cấp tỉnh thực hiện có 131/132 đơn vị, đạt tỷ lệ 99,2%, do 01 đơn vị mới thành lập, chưa phê duyệt giao quyền tự chủ tài chính là Ban Quản lý trung tâm hành chính chính trị tỉnh; số đơn vị cấp huyện thực hiện: 382/382 đơn vị, đạt tỷ lệ 100%, tăng 07 đơn vị so với năm 2012. Riêng đối với các đơn vị khoa học và công nghệ công lập (gồm Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, Trung tâm Tin học và thông tin khoa học công nghệ, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng) đang tiếp tục thực hiện tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/6/2006 của Chính phủ đến hết năm 2013 theo lộ trình triển khai cơ chế tại Thông tư liên tịch số 36/2011/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 26/12/2011 của Liên bộ Khoa học và Công nghệ - Tài chính - Nội vụ.

6. Hiện đại hóa nền hành chính:

- Đến nay, 100% cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đơn vị hành chính cấp huyện, UBND cấp xã đã được đầu tư trang thiết bị tin học; xây dựng hệ thống mạng nội bộ thông suốt để phục vụ cho giải quyết công việc. Hiện nay, có 21/22 đơn vị hành chính cấp tỉnh (trừ Ban Dân tộc) và 8/8 huyện đã có trang thông tin điện tử đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và 2, một số đơn vị nâng cấp để đáp ứng về cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4. Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 2.574 thủ tục cung cấp dịch vụ công trực tuyến (Mức độ 1: 495 thủ tục; Mức độ 2: 1.984 thủ tục; Mức độ 3: 95 thủ tục).

- Hệ thống thư điện tử công vụ tỉnh BR-VT: UBND tỉnh đã đầu tư nâng cấp hệ thống thư công vụ của tỉnh và đã ban hành Quyết định số 1154/QĐ-UBND ngày 15/05/2013 của UBND Tỉnh ban hành Quy chế Quản lý, sử dụng Hệ thống thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Hệ thống thư điện tử công vụ đã được cấu hình tích hợp trong phần mềm quản lý văn bản eOffice hỗ trợ việc gửi nhận các tài liệu, văn bản trao đổi thông tin của CBCC-VC với các cơ quan, tổ chức và cá nhân an toàn và thuận lợi. Đến nay đã cấp tổng cộng khoảng hơn 7.300 hộp thư cho CBCC-VC tại các cơ quan, đơn vị; ; số lượng cán bộ, công chức sử dụng thư điện tử trong trao đổi công việc tại cấp tỉnh, cấp huyện đạt tỷ lệ trên 90%.

 - Về sử dụng phần mềm quản lý văn bản eOffice: Tính đến nay tổng số 21/22 cơ quan hành chính cấp tỉnh , 57 đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh, 8/8 huyện và 53/82 đơn vị cấp xã đã triển khai thực hiện ứng dụng hệ thống phần mềm quản lý văn bản (eOffice) trong chỉ đạo, điều hành.

- Về chữ ký, con dấu điện tử: UBND Tỉnh đã giao Sở Thông tin và Truyền thông triển khai sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số và ủy quyền cho giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông quản lý thuê bao chứng thư số. Đã cấp phát chứng thư số cho 99 cán bộ lãnh đạo thuộc UBND Tỉnh, lãnh đạo các Sở, ngành, UBND cấp huyện.

- Hội nghị truyền hình: Đã đầu tư thiết bị đặt tại Sở Thông tin và Truyền thông, điểm cầu tại các UBND huyện, thành phố. Đường truyền đã sẵn sàng phục vụ hội nghị truyền hình khi có yêu cầu của UBND tỉnh. Hiện tại tốc độ tại các điểm cầu là 8Mbps và ở điểm cầu trung tâm là 30Mbps.

- Phần mềm tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính: Phần mềm một cửa (eGate) được triển khai tại 8/8 huyện, thành phố và 82/82 xã, phường, thị trấn, được tích hợp về Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh. Xây dựng trang thông tin điện tử theo dõi hiện trạng giải quyết hồ sơ thủ tục tại bộ phận một cửa cấp xã.

- UBND tỉnh đã giao cho Sở Khoa học và Công nghệ là đơn vị đầu mối thực hiện hướng dẫn, triển khai, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan hành chính trong công tác xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 trên địa bàn tỉnh. Đến nay, có 51 đơn vị hành chính triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, gồm: 21 Sở, Ngành của tỉnh (hoàn thành 100%); 08 Huyện, thành phố (hoàn thành 100%); 15/17 Chi cục thuộc các Sở (hoàn thành 88,20%), 07/82 Phường, xã, thị trấn triển khai thí điểm.

7. Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ:  Đối với các Sở, ngành: tiếp tục duy trì thực hiện cơ chế một cửa theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tại 08/08 UBND cấp huyện, 82/82 UBND cấp xã và các Sở, ngành, thời gian, quy trình thủ tục hành chính được thực hiện thống nhất theo Bộ thủ tục hành chính đã được UBND tỉnh công bố theo quy định. Ngoài ra, Sở Kế hoạch và Đầu tư vẫn duy trì là đầu mối tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông đối với dự án đầu tư bên ngoài các khu công nghiệp; duy trì đầu mối thực hiện cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, khắc dấu, mã số thuế theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Sở Tài nguyên và Môi trường (Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh) và cơ quan thuế, Tài chính tiếp tục duy trì cơ chế phối hợp luân chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính trong giải quyết các thủ tục hành chính về đất đai theo quy định

 8. Về công tác tuyên truyền CCHC:  Nhằm thực hiện tốt việc tuyên truyền công tác CCHC hàng năm của tỉnh, các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh đã tích cực tổ chức tuyên truyền CCHC với nhiều hình thức đa dạng, phong phú về tầm quan trọng, ý nghĩa, nội dung của CCHC; phản ánh, nêu những gương điển hình tiên tiến; giới thiệu những mô hình mới, cách làm hay; những tồn tại, hạn chế trong CCHC từ đó góp phần nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của CBCCVC và nhân dân trong công cuộc cải cách hành chính của tỉnh

 Bên cạnh những ưu điểm, đột phá đã làm được, công tác CCHC trong năm 2013 ở các sở, ban, ngành, địa phương vẫn còn gặp một số tồn tại, hạn chế:

  Việc ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính còn chậm; công tác tự kiểm tra trong nội bộ và của cấp trên với cấp dưới chưa được thực hiện thường xuyên, quyết liệt; việc tham mưu công bố thủ tục hành chính tại một số cơ quan còn chậm; thủ tục hành chính tại lĩnh vực đất đai còn giải quyết trễ so với thời gian quy định; một số đơn vị cấp xã thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông chưa triệt để các lĩnh vực theo quy định. Việc ứng dụng văn phòng điện tử eOffice trong chỉ đạo điều hành của một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn hạn chế, chưa khai thác hiệu quả những tính năng của hệ thống; việc triển khai thức hiện cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 tại các Sở, ngành, địa phương theo quy định của UBND tỉnh còn chậm; việc thực hiện liên thông hồ sơ trên hệ thống phần mềm giữa UBND các xã, phường, thị trấn và UBND các huyện, thành phố tiến độ triển khai còn chậm.

Trong năm 2014, các sở, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh triển khai Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020, thực hiện nhiệm vụ CCHC trên cả 6 lĩnh vực: Thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, công chức, công vụ, tài chính công và hiện đại hóa hành chính. Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm cụ thể như sau:

 - Cập nhật kịp thời và tham mưu công bố thủ tục hành chính theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính. Triển khai có hiệu quả việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp theo tinh thần Nghị định số 20/2008/NĐ-CP của Chính phủ.

 - Thực hiện việc điều tra xã hội học để đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh theo đề án "Xây dựng Phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước" được phê duyệt tại Quyết định số 1383/QĐ-BNV ngày 28/12/2012 của Bộ Nội vụ.

- Tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Sở, ngành, địa phương, trong đó phấn đấu đưa tất cả các thủ tục hành chính thiết thực liên quan đến người dân, doanh nghiệp vào thực hiện tại Bộ phận một cửa, một cửa liên thông. Triển khai nhân rộng mô hình một lần nộp hồ sơ được giải quyết nhiều thủ tục hành chính. Tập trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.

 - Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả trên cơ sở rà soát, đánh giá thực hiện chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức công vụ, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của CBCC trực tiếp tiếp nhận, xử lý, tham mưu giải quyết các thủ tục hành chính.

 - Thực hiện tốt các Chương trình, Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được UBND tỉnh phê duyệt, nhằm tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh.

- Tiếp tục thực hiện giao quyền tự chủ cho các cơ quan, đơn vị hành chính theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh.

 - Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống hội nghị trực tuyến trong giao ban, hội họp giữa các cơ quan, địa phương trong tỉnh. Củng cố, nâng cao chất lượng áp dụng Văn phòng điện tử eOffice và hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại các sở ngành, địa phương đã được UBND tỉnh phê duyệt, đồng thời mở rộng thực hiện tại UBND cấp xã.

 - Triển khai việc đánh giá, xếp loại về kết quả thực hiện cải cách hành chính năm 2013 của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn tỉnh và UBND cấp huyện, cấp xã theo Bộ Chỉ số theo dõi, đánh giá, xếp hạng kết quả cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh được ban hành tại Quyết định số 1698/QĐ-UBND ngày 06/8/2013.

                 Đào Mai Cường – Phòng cải cách hành chính Sở Nội vụ